1. Triệu chứng lâm sàng:
+ Tại chỗ: bệnh diễn biến từ từ với các triệu chứng sau:
- Cảm giác nặng và tức ngực.
- Cảm giác vướng trong cổ họng.
- Khó nuốt: lúc đầu khó nuốt nhưng không đau, về sau khó nuốt kèm theo đau, lúc đầu khó nuốt với thức ăn rắn, về sau khó nuốt với cả thức ăn lỏng.
- Đau âm ỉ đè nén dọc theo xương ức.
- Miệng hôi thối.
- Giọng khàn (do u chèn ép vào thần kinh quặt ngược)
+ Toàn thân:
- Mệt mỏi, kém ăn, khát nước, nôn máu.
- Sút cân nhanh (khoảng 5kg/1 tháng).
- Da xanh.
Về sau tuỳ theo vị trí di căn của
ung thư thực quản tới các cơ quan lân cận có thể có:
- Dấu hiệu thanh- khí quản: giọng khàn, ho như ếch kêu.
- Các dấu hiệu phổi - phế quản: sốt, ho, khạc đờm lẫn máu, mủ.
- Các dấu hiệu màng phổi: đau ngực, sốt, ho khan.
- Biểu hiện hẹp tâm vị: cảm giác khó thở ngột ngạt, cảm giác chèn ép sau xương ức
- Biểu hiện dạ dày: đau thượng vị, buồn nôn, nóng rát, ợ, nôn máu.
2. Triệu chứng cận lâm sàng:
+ X-quang có Baryt: cần chụp thẳng, nghiêng và chếch. Có hai loại hình ảnh:
- Hình cân đối 2 bên: thường thể hiện của ung thâm nhiễm đã ăn vòng hết thực quản. Đoạn tổn thương thể hiện một ống cứng hẹp bờ không đều, nham nhở.
- Hình ảnh bệnh lý chỉ ở một bên: thường thể hiện của
ung thư thể u.
Hình ảnh của nó thường là một hình khuyết, bờ nham nhở có khi thành 2, 3 múi. Không ít trường hợp lại có bờ nhẵn nhụi, hình bầu dục, rất khó phân biệt với một u lành tính hoặc một khối u ngoài thực quản đè vào. Có khi có những hình loét không sâu lắm và cứng thường nghĩ đến các ổ loét ác tính.
+ Cần lưu ý:
- Có khoảng 6% âm tính giả (hình ảnh X-quang bình thường) trên những bệnh nhân đã được nội soi xác định
ung thư thực quản.
- Có khoảng 2% X-quang vẫn bình thường khi bệnh nhân đã sắp từ trần (N.X.Huyên).
+ Nội soi thực quản có 4 hình ảnh:
- Dạnh polyp: ít có và thường là
ung thư tuyến.
- Thể loét: ổ loét, bờ nham nhở, cứng, đáy bẩn có thể có xuất huyết trên bờ hoặc đáy ổ loét. Thể này hiếm gặp và thường là
ung thư Squamux.
- Thể thâm nhiễm: niêm mạc hơi dày lên, nhợt nhạt và nhu động của thực quản bị hạn chế. Thể này thường có hơn và có khuynh hướng lan hết vòng thực quản gây tắc dần.
- Thể u (thông thường nhất): u loét, sùi, rớm máu thường lan hết vòng tròn thực quản rất nhanh dễ gây tắc, rất mủn, dễ hoại tử và bội nhiễm gây dò sang cơ quan lân cận.
Hạn chế của nội soi: có khoảng 6% không đưa được ống soi vào thực quản hoặc không đưa được đến đoạn bị ung thư.
+ Sinh thiết: để xác định chẩn đoán đồng thời để phân loại có thể bệnh học, thể ung thư tuyến và thể ung thư Squamux. Về tiên lượng thể ung thư tuyến ít xấu hơn thể Squamux. Khoảng 10% sinh thiết lần đầu không thấy được tổ chức ung thư vì:
- Ung thư còn ở dưới niêm mạc, mẩu sinh thiết chưa đủ sâu.
- Ống thực quản bị hẹp do đó không đưa ống soi đến sát nơi ung thư để sinh thiết được.
- Kim sinh thiết không cắt trúng ổ ung thư mà cắt phải tổ chức lân cận.
+ Tế bào học: nếu không có điều kiện sinh thiết thực quản, lấy nước rửa thực quản sau khi ly tâm, phết lam kính soi có thể thấy 75-95% tế bào ung thư thực quản (theo một số tác giả).
3. Chẩn đoán dựa vào:
- Lâm sàng
- X-quang
- Nội soi sinh thiết, nội soi siêu âm.
4. Biến chứng và tiên lượng:
a. Tiên lượng:
Tiên lượng rất xấu của ung thư thực quản khi đã chẩn đoán muộn chủ yếu do sự xâm lấn ung thư sang các cơ quan lân cận gây các biến chứng.
b. Biến chứng của ung thư thực quản:
- Viêm trung thất hoặc thủng thực quản vào trung thất (4%) gây tình trạng khó thở cấp kèm theo tràn khí dưới da, cổ và ngực có khi cả 2 tay.
- Dò thực quản vào khí phế quản (18%) làm thức ăn vào hô hấp gây ho sặc sụa, có khi ngạt thở và thường là nguyên nhân của viêm phổi, apxe phổi ở bệnh nhân ung thư thực quản.
- Di căn: chủ yếu theo đường bạch mạch và một phần nào theo máu. Thông thường nhất vào hạch địa phương (53%-75% trường hợp), vào phổi (23%-34%), vào gan (21%-33%) ngoài ra có thể di căn vào xương nhất là các đốt sống lưng, vào thượng thận và thận.